Hai bản khác nhau nhiều hơn người chơi thường nghĩ, và ở giữa còn hai bản miền Trung ít được nhắc tới. Trang này gộp cả bốn vào một bảng, và chỉ rõ điểm nào thật sự khác vùng, điểm nào chỉ là khác bàn.
Chỉ ba điểm phân biệt được vùng: lá nào mở màn, có buộc đánh lẻ lá đó không, và đôi thông dùng để làm gì. Mọi khác biệt khác — tứ quý có chặn được đôi 2 hay không, bốn đôi thông có cần đợi lượt hay không — là khác bàn, không phải khác vùng.
Đây là lý do bảng dưới chỉ có ba dòng đầu là dùng để nhận diện vùng.
Cột Huế và Đà Nẵng gộp chung vì hai bản này giống nhau ở các điểm đang so. Dấu — nghĩa là không có thông tin, không phải là không áp dụng.
| Điểm | Miền Nam | Huế / Đà Nẵng | Miền Bắc |
|---|---|---|---|
| Lá mở màn | 3♠ | 3♣ (Huế) | 3♠ |
| Buộc đánh lẻ lá đó | Không | — | Có |
| Đôi thông | Chặn được 2 | Chỉ cướp cái | Không có bộ này |
| Đôi phải cùng màu | Không | — | Có |
| Sảnh phải cùng chất | Không | — | Có |
Bản miền Bắc chặt hơn về chất: một đôi phải gồm hai lá cùng màu, một sảnh phải gồm các lá cùng chất. Bản miền Nam không yêu cầu điều đó, nên dễ ghép bài hơn nhiều.
Đây là điểm người mới chuyển từ bản này sang bản kia hay bị nhầm nhất, vì nó ảnh hưởng tới gần như mọi lượt đánh.
Theo Wikipedia, Huế dùng 3♣ mở màn thay vì 3♠, và ở Huế lẫn Đà Nẵng, ba đôi thông không chặn được con 2 mà chỉ dùng để giành quyền đi trước.
Đà Nẵng còn một điểm riêng khá lạ: bốn đôi thông chặn được đôi 2 nhưng không chặn được một con 2 lẻ. Điểm này chỉ có một nguồn ghi lại, nên nếu bàn bạn chơi khác thì không có gì lạ.
Ba câu hỏi dưới đây đủ để tránh gần hết tranh cãi trong một ván.
Không. Đôi thông chỉ tồn tại trong luật miền Nam. Bản miền Bắc chỉ có tứ quý.
Lá mở màn. Nếu ván đầu đi bằng 3♣ thì đó là bản Huế; đi bằng 3♠ thì là miền Nam hoặc miền Bắc.
Ba điểm: lá mở màn, đôi thông có chặn được 2 không, và tứ quý có chặn được đôi 2 không.